Đăng nhập thành viên

Liên kết website

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay196
mod_vvisit_counterHôm Qua103
mod_vvisit_counterTuần này8158
mod_vvisit_counterTuần trước10526
mod_vvisit_counterTháng này1972
mod_vvisit_counterTháng trước25657
mod_vvisit_counterTất cả1920674

Chúng ta có: 22 Khách trực tuyến
Tin tức

Hội thi sản phẩm tái chế từ rác thải nhựa

In

Thực hiện Chỉ thị số 08/CT-BYT ngày 29/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về giảm thiểu rác thải nhựa trong ngành y tế, Bệnh viện Phụ sản – Nhi Quảng Nam đã phát động phong trào giảm thiểu rác thải nhựa trong cácbuổi sinh hoạt chuyên môn, trong việc tư vấn, truyền thông cho người nhà người bệnh về tác hại của rác thải nhựa. Ngày 3 tháng 12 vừa qua, bệnh viện đã tổ chức hội thi với chủ đề “Sản phẩm tái chế từ rác thải nhựa” đã diễn ra thành công, tốt đẹp.

Hội thi rác thải nhựa lần đầu tiên được tổ chức nhưng đã nhận được sự quan tâm của ban lãnh đạo bệnh viện và sự hưởng ứng sôi nổi của đoàn viên công đoàn toàn bệnh viện. Cuộc thi không chỉ mang một ý nghĩa thiết thực truyền tải thông điệp “Giảm thiểu rác thải nhựa” để bảo vệ môi trường đến với mọi người - một nội dung quan trọng được triển khai trong toàn ngành y tế, mà còn có tính ứng dụng cao góp phần thay đổi thói quen sử dụng đồ dùng bằng nhựa, xây dựng một Bệnh viện Xanh-Sạch-Đẹp.

Hình ảnh khai mạc Hội thi

Những sản phẩm dự thi tái chế rác thải nhựa

Nhân hoạt động này, đoàn viên công đoàn trong bệnh viện có dịp thể hiện tính sáng tạo, những ý tưởng đột phá tạo nên các sản phẩm tái chế đặc sắc và đầy ý nghĩa. Qua đây, hội thi còn là dịp để gắn kết tinh thần đoàn kết giữa anh chị em trong bệnh viện.

Kết thúc Hội thi, các sản phẩm dự thi được ứng dụng ngay trong bệnh viện đã mang lại ý nghĩa thực tiễn cao. Đồng thời, những giải thưởng được trao tặng cho các đội thi đạt giải góp phần khuyến khích, cổ động tinh thần cho mọi người cùng tham gia thực hiện giảm thiểu rác thải nhựa.

Hình ảnh trao giải thưởng cho các đội thi

Đây sẽ là phát pháo đầu tiên nổ ra để hoạt động giảm thiểu rác thải nhựa sẽ tiếp tục được triển khai, phát triển hơn nữa và duy trì lâu dài tại bệnh viện.

Bs Dương Thanh Trang Đài

 

Báo cáo công tác phúc tra cuối năm 2019 của Bệnh Viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam

In

Ngày 05/11/2019, Bệnh viện Phụ sản -Nhi Quảng Nam đón đoàn phúc tra cuối năm của Sở Y tế. Nội dung kiểm tra bao gồm: kiểm tra theo bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, công tác nghiệp vụ y, xanh-sạch-đẹp, tổ chức hành chính...

Tổ chăm sóc khách hàng, đón tiếp của bệnh viện

Thành phần Đoàn kiểm tra gồm có: BS Huỳnh Thế Vịnh – Phó giám đốc Sở Y tế, Trưởng Đoàn; Đại diện lãnh đạo các phòng thuộc Sở Y tế và Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam;

 Qua đợt kiểm tra, đánh giá chất lượng năm 2019, kết quả như sau:

Điểm chấm theo Bộ tiêu chí:

Bệnh viện không còn tiêu chí ở mức 1, các tiêu chí mức 4, mức 5 có cải thiện, tổng điểm đạt 265 điểm 

Về công tác khác:

Nghiệp vụ y: 98 điểm (rất tốt), Xanh - Sạch - Đẹp: 78 điểm (khá), Tổ chức hành chính: 91 điểm (tốt). 

Môi trường bệnh viện xanh - sạch - đẹp

Kết quả khảo sát hài lòng người bệnh và nhân viên y tế:

Nội trú: Điểm trung bình (4.62), hài lòng chung (98%), tỷ lệ bệnh nhân sẽ quay lại (95%)

Ngoại trú: Điểm trung bình (4,28), hài lòng chung (86%), tỷ lệ bệnh nhân sẽ quay lại (100%)

Hài lòng nhân viên y tế: Điểm trung bình (4,11), hài lòng chung (91%), tỷ lệ gắn bó lâu dài với bệnh viện (95%).

Hài lòng với lãnh đạo bệnh viện: 100%

Trưởng đoàn kiểm tra đã tuyên dương Bệnh viện có nhiều tiến bộ trong năm 2019, điểm trung bình tăng vượt so với các năm trước. Tiếp tục phát huy thực hiện tốt và có hiệu quả các mặt hoạt động của Bệnh viện; hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch năm 2020.

         

 

                                                                PHÒNG KHTH - QLCLBV

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 13 Tháng 11 2019 09:15
 

Ngày hội 5s ở Bệnh Viện Phụ sản – Nhi Quảng Nam

In

Ngày hội 5S tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam đã thành công tốt đẹp. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cảm ơn CHIR và nhà tài trợ Canava đã đến truyền lửa cho anh chị em bệnh viện và các đơn vị bạn . Tinh thần 5S ở BV Phụ sản - Nhi Quảng Nam đang hừng hực. Hy vọng sẽ sớm có những sản phẩm để khoe với câu lạc bộ.

 

Tổ T3G

 

Kết quả bước đầu của phẫu thuật lipszyc trong điều trị vùi dương vật tại Bệnh Viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam

In

TÓM TẮT

Mục đích: Các tác giả giới thiệu kết quả điều trị dị tật vùi dương vật bằng phẫu thuật Lipszyc.

Số liệu và phương pháp: từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 10 năm 2019 có 12 trường  hợp  vùi  dương  vật đã được điều trị  tại  Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam bằng phẫu thuật Lipszyc: phẫu tích cân  Buck loạn sản và sau đó cố định cân Buck với Dartos.

Kết quả: Đánh giá kết quả 1 tháng sau phẫu thuật, tất cả các trường hợp đều thành công. Chiều dài dương vật tăng sau mổ: ngắn nhất là 1,5 cm, dài nhất 3 cm, trung bình 2,1±0,5  cm. Không có tai biến, biến chứng đáng kể. Ba trường hợp phù nề niêm mạc bao quy đầu khỏi sau 1 - 2 tuần

Kết luận: sử dụng phẫu thuật Lipszyc cho kết quả tốt về chiều dài dương vật và thẫm mỹ trong điều trị vùi dương vật.

Từ khóa: vùi dương vật, Liszpyc

 

THE INITIAL RESULTS OF LIPSZYC SURGERY IN THE TREATMENT OF BURIED PENIS IN QUANG NAM HOSPITAL

FOR WOMEN AND CHILDREN

 

Khuong Minh Dao, Cu Thi Thao

Quang Nam Hospital for Women and Children

ABSTRACT

Purposes: The authors would like to present the results of surgical treatment for the malformation of buried penis with lypszic surgery.

Figures and methods: From September 2018 to October 2019, 12 cases of buried penis underwent surgical treatment at Quang Nam Hospital for Women and Children with Lipszyc surgery: dissection of dysgenetic fascia and fixation of Dartos fascia to Buck’s fascia.

Results: Evaluate the results within 1 month after the surgery, all cases were successful. Penis length increases after surgery: the shortest is 1.5 cm, the longest is 3 cm, the average is 2,1±0,5  cm. There were no significant  complications. Three cases of edema of the foreskin mucosa disappeared after 1-2 weeks

Conclusion: Using Lipszyc surgery gives good results in penis length and aesthetics in treating buried penis.

Keywords: Buried penis, Lipszyc.

 


1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùi dương vật là dị tật bẩm sinh của bộ phận sinh dục ngoài đã được Keyes mô tả lần đầu tiên năm 1919. Trong dị tật này, thân dương vật và quy đầu bị vùi trong lớp da quy đầu liên tục với bìu và/hoặc thành bụng, nên không nhô lên khỏi lớp da trước xương mu và gây khó khăn khi tiểu tiện. Nếu không được điều trị, dị tật này sẽ gây ra những ảnh hưởng về tiết niệu - sinh dục như: nhiễm trùng tiểu tái phát, viêm quy đầu xơ và tắc [8].

Hiện nay, tần suất của vùi dương vật chưa được ghi nhận trên thế giới. Là một dị tật được ghi nhận khá muộn nên chưa được nghiên cứu kỹ, đến nay vùi dương vật về bệnh nguyên còn nhiều điều chưa rõ ràng, về chẩn đoán có nhiều hạn chế, riêng điều trị đã có nhiều kỹ thuật được giới thiệu: Alter, Brisson, Whitehead, Ahmed T. Hadidi…[4], [7], [9], [11].

Để góp phần lựa chọn một kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị trong điều trị vùi dương vật cho trẻ em, chúng tôi thực hiện đề tài: Kết quả bước đầu của phẫu thuật Lipszyc trong điều trị vùi dương vật tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam.

Nghiên cứu nhằm mục tiêu:

1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

2. Đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật Lipszyc trong điều trị vùi dương vật tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Là 12 trẻ bị vùi dương vật được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam, từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 10 năm 2019.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

            Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3. KỸ THUẬT MỔ

2.3.1. Phương pháp vô cảm

            - Trẻ < 20 kg: mê nội khí quản kết hợp tê khoang xương cùng

            - Trẻ ≥ 20 kg: mê nội khí quản

2.3.2. Kỹ thuật mổ

Phẫu thuật Lipszyc: Dùng kiềm kẹp dọc bao quy đầu ở vị trí 12 giờ đến dưới khấc quy đầu. Cắt theo đường kẹp để hạn chế chảy máu. Tuột da quy đầu ngược ra sau, đường cắt dọc trở thành đường cắt ngang, kéo dài đường cắt thành vòng tròn.

Đính một sợi chỉ ở phần xa của quy đầu, kéo dương vật ra phía trước để thao tác được dễ dàng hơn. Cân nông dương vật (Dartos) được tách ra khỏi thân dương vật. Cắt cân Buck loạn sản. Đặt thông tiểu trong lúc lột dương vật để tránh tổn thương niệu đạo.

Khâu lớp cân Buck vào Dartos tại gốc dương vật bằng 02 nút chỉ không tan ở vị trí 3 giờ và 9 giờ.

May lại lớp da và niêm mạc bao quy đầu che phủ dương vật.

Cố định thông tiểu [2], [7].

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành phẫu thuật cho 12 trẻ bị vùi dương vật. Về tuổi: nhỏ nhất là 22 tháng, lớn nhất là 129 tháng, trung bình là 49±37,9 tháng. Cân nặng: thấp nhất là 9 kg, cao nhất là 43 kg, trung bình là 19±10,4 kg. Mức độ vùi dương vật: mức độ nhẹ là 41,7%, trung bình là 50,0%, nặng là 8,3%. Chiều dài dương vật trước mổ: ngắn nhất là 0,0 cm, dài nhất là 0,8 cm, trung bình là 0,3±0,3 cm. Một số đặc điểm bệnh lý khác trên các bệnh nhân vùi dương vật được phẫu thuật: hẹp bao quy đầu là 75%, thiếu da dương vật 75,0%, tiểu phồng 25%, nhiễm trùng đường tiểu 41,7%, dị tật bẩm sinh khác 0,0%.

3.2 Kết quả bước đầu của phẫu thuật Lipszyc trong điều trị vùi dương vật tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam.

            Bảng 3.1. Thời gian mổ

Ngắn nhất

Dài nhất

Trung bình

35,0

90,0

58,3 ±17,6

Thời gian mổ: ngắn nhất là 35,0 phút, dài nhất là 90,0 phút, trung bình là 58,3 ±17,6 phút.

Bảng 3.2. Chiều dài niêm mạc sau mổ

Ngắn nhất

Dài nhất

Trung bình

0,3

1,5

0,8±0,4 cm

Chiều dài niêm mạc sau mổ: ngắn nhất là 0,3 cm, dài nhất là 1,5 cm, trung bình là 0,8±0,4 cm.

 

Bảng 3.3. Chiều dài dương vật tăng sau mổ:

Ngắn nhất

Dài nhất

Trung bình

1,5

3,0

2,1±0,5 

Chiều dài dương vật tăng sau mổ: ngắn nhất là 1,5 cm, dài nhất là 3,0 cm, trung bình là 2,1±0,5  cm.

Bảng 3.4. Một số biến chứng trong và sau mổ:

Biến chứng

Số mổ

Số mắc

Tỷ lệ %

Chảy máu

12

0

0,0

Phù nề

12

3

25,0

Nhiễm trùng

12

0

0,0

Biến chứng khác

12

0

0,0

Biến chứng trong và sau mổ, chảy máu: 0%, phù nề: 25,0%, nhiễm trùng: 0%, các biến chứng khác: 0,0%

Bảng 3.5. Kết quả phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật

Số mổ

Số thành công

Tỷ lệ %

12

12

100,0

Phẫu thuật thành công: 100%

 

4. BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm về tuổi

Tuổi của các đối tượng nghiên cứu, nhỏ nhất: 22 tháng, lớn nhất: 129 tháng, trung bình: 49 ± 37,9 tháng.

Độ tuổi trong nghiên cứu của I.C.C King và cộng sự, nhỏ nhất: 8 tháng tuổi, lớn nhất: 12 tuổi, trung bình: 6 tuổi [10].

Độ tuổi trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự, nhỏ nhất: 4 tháng tuổi, lớn nhất: 13 tuổi, trung bình: 4,6 tuổi [8].

Tuổi phẫu thuật, tuổi trung bình và tuổi lớn nhất nghiên cứu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của I.C.C King và cộng sự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự.

Tuổi nhỏ nhất, nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của 2 tác giả nêu trên là 22 tháng so với 8 tháng và 4 tháng. Điều này, do khi chỉ định bệnh nhân phẫu thuật vì điều kiện trang thiết bị, thuốc men, nhân lực về gây mê và phẫu thuật của chúng tôi không tốt bằng môi trường nghiên cứu của các tác giả nêu trên nên chúng tôi chọn chỉ định bệnh nhân ở tuổi lớn hơn để đảm bảo an toàn phẫu thuật.

Đặc điểm cân nặng

Cân nặng của các đối tượng nghiên cứu: thấp nhất là 9 kg, cao nhất là 43 kg, trung bình là 19±10,4 kg. Mức cân nặng, chúng tôi chỉ định tương đối cao, 9 kg trở lên để đáp ứng điều kiện phẫu thuật thực tế của đơn vị.

Mức độ vùi dương vật

Vùi dương vật mức độ nhẹ: 41,7%, trung bình: 50,0%, nặng: 8,3%.

Vùi dương vật trong các đối tượng nghiên cứu chủ yếu là vùi dương vật trung bình và nhẹ (50% và 41,7%), vùi dương vật nặng có 1 trường hợp chỉ chiếm 8,3%.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự, mức độ trung bình chiếm đa số 69,2%, độ nhẹ là 10,3%, độ nặng là 20,7% [8].

So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, thì mức độ trung bình và mức độ nặng có tỷ lệ cao hơn nghiên cứu của chúng tôi. Có thể do một số bệnh nhân các tuyến trước chuyển đến Bệnh viện Nhi Đồng 1 là các bệnh nhân đã được chọn lọc, là bệnh nhân nặng, vượt khả năng phẫu thuật ở tuyến trước, bệnh nhân mổ thất bại ở tuyến trước, nên bệnh nhân trong nghiên cứu của tác giả này có mức độ trung bình và mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao hơn.

Kết quả nghiên cứu của Cromie, độ nhẹ chiếm nhiều nhất 40,4% độ trung bình là 31,9%, độ nặng là 27,7% [8].

Kết quả nghiên cứu của Cromie, tỷ lệ mức độ nặng cao hơn, nhưng tỷ lệ mức độ trung bình thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi. Điều này có thể do phân bố mức độ vùi dương vật liên quan đến chủng tộc nên ở khu vực châu Á khác với châu Mỹ.

Chiều dài dương vật trước mổ

Chiều dài dương vật trước mổ, ngắn nhất: 0,0 cm, dài nhất: 0,8 cm, trung bình: 0,3±0,3 cm.

Vùi dương vật trong nghiên cứu này, sờ ở tư thế bình thường kích thước dương vật rất bé, trung bình chỉ khoảng 0,3 cm, đây là bệnh lý không phục hồi, là báo động cho sự can thiệp bằng phẫu thuật điều trị.

Một số đặc điểm bệnh lý khác

Đặc điểm bệnh lý khác trên các bệnh nhân vùi dương vật được phẫu thuật, hẹp bao quy đầu: 75%, thiếu da dương vật 75,0%, tiểu phồng: 25%, nhiễm trùng đường tiểu: 41,7%, dị tật bẩm sinh khác: 0,0%.

Vùi dương vật thường đi kèm với hẹp bao quy đầu và thiếu da dương vật và tỷ lệ nhiễm trùng đường tiểu cao.

4.2. Kết quả bước đầu của phẫu thuật Lispyc trong điều trị vùi dương vật

Thời gian mổ

Thời gian mổ ngắn nhất: 35,0 phút, dài nhất: 90,0 phút, trung bình: 58,3 ±17,6 phút.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, thời gian phẫu thuật trung bình với kỹ thuật này là 38,45 phút [8].

So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự, thời gian phẫu thuật trung bình của nghiên cứu chúng tôi dài hơn. Điều này do trang thiết bị, đặc biệt là các dụng cụ phẫu thuật của chúng tôi chưa đầy đủ và chưa đạt yêu cầu, ê kíp phẫu thuật - gây mê của chúng tôi chưa kinh nghiệm bằng Bệnh viện Nhi Đồng 1.

Chiều dài niêm mạc sau mổ

Chiều dài niêm mạc sau mổ, ngắn nhất: 0,3 cm, dài nhất: 1,5cm, trung bình: 0,8±0,4  cm.

Trong bệnh lý vùi dương vật có một tỷ lệ cao bệnh nhân thiếu da dương vật, nên trong phẫu thuật kéo dài dương vật, da không đủ che dương vật. Kỹ thuật Lipszyc sử dụng niêm mạc bao quy đầu để che phủ khuyết da dương vật, để đảm bảo che phủ toàn bộ chiều dài dương vật.

Chiều dài dương vật tăng sau mổ

Chiều dài dương vật tăng sau mổ, ngắn nhất: 1,5 cm, dài nhất: 3,0 cm, trung bình 2,1±0,5 cm.

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, chiều dài dương vật sau mổ dài ra thêm ít nhất là 1 cm, dài nhất là 3 cm, trung bình là 1,5 cm [8].

So sánh với kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự, chiều dài dương vật tăng trung bình sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một ít. Điều này có thể do bệnh nhân trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự nhỏ tuổi hơn trong nghiên cứu của chúng tôi. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự, tuổi phẫu thuật nhỏ nhất là 4 tháng tuổi, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tuổi phẫu thuật nhỏ nhất là 22 tháng. Ngoài ra, nghiên cứu ở của Nguyễn Thị Đan Tâm, bệnh nhân là những trường hợp bệnh khó, bệnh mổ thất bại ở tuyến trước chuyển về, nên có ảnh hưởng nhất định đến kết quả kéo dài dương vật trong phẫu thuật.

Một số biến chứng trong và sau mổ

Một số biến chứng sau mổ, chảy máu: 0%, phù nề: 25,0%, nhiễm trùng: 0%.

Niêm mạc bao quy đầu là tổ chức lỏng lẽo, rất dễ bị phù nề, tai biến sau phẫu thuật Lipszyc thường gặp là phù nề, đây là điều cần quan tâm vì gây lo lắng cho cha mẹ bệnh nhi, và cũng có thể gây biến chứng thừa niêm mạc bao quy đầu về sau.

Qua nghiên cứu, sau phẫu thuật chúng tôi gặp 3/12 trường hợp phù nề rơi vào các đối tượng là trẻ có biểu hiện kích  thích, tăng động và khó trông giữ hơn các trẻ khác. Điều này cho thấy vấn đề chăm sóc hậu phẫu là hết sức quan trọng để hạn chế tai biến này. Phù nề được ghi nhận ổn định sau 1-2  tuần.

            Kết quả phẫu thuật

Chúng tôi đã phẫu thuật thành công 12/12 trường hợp, đạt tỷ lệ 100%, đảm bảo về chiều dài dương vật và thẩm mỹ.

Kết quả phẫu thuật của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước như: nghiên cứu của Nguyễn Thị Đan Tâm và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 [8], nghiên cứu của Lê Thanh Hùng và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 [3], nghiên cứu của Phạm Ngọc Thạch, Lê Tấn Sơn tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 [6], nghiên cứu của I. C. C. King và cộng sự tại Bệnh viện Đại học James Cook, Middlesbrough, Vương quốc Anh [10].

5. KẾT LUẬN

            Qua kết quả bước đầu của phẫu thuật Lipszyc trong điều trị vùi dương vật tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Quảng Nam, chúng tôi kết luận như sau:

Phẫu thuật Lipszyc là một kỹ thuật điều trị vùi dương vật hiệu quả, cho kết quả tốt về chiều dài dương vật và thẫm mỹ. Trong một năm áp dụng phẫu thuật Lipszyc, tỷ lệ thành công là 100%, không có các tai biến, biến chứng đáng kể.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

  1. Bệnh viện Nhi Đồng 2 (2018), Vùi dương vật, NXB Y học, tr. 126-127.
  2. Ebook Y học - Y khoa, Phác đồ điều trị vùi dương vật, https://phacdochuabenh.com/phac-do/nhi-khoa/ngoai-tiet-nieu/233.php
  3. Lê Thanh Hùng, Nguyễn Thị Đan Tâm, Lê Công Thắng, Lê Tấn Sơn (2008), Ưu điểm của kỹ thuật Lipszyc trong điều trị vùi dương vật, Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 12, Phụ bản của Số 1 - 2008.
  4. Huỳnh Vĩnh Hải Ngươn (2013), Áp dụng đường mổ Whitehead vào phẫu thuật điều trị bệnh vùi dương vật bẩm sinh, Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 17, Phụ bản của Số 3 - 2013,  Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch.
  5. Lê Tấn Sơn, Lê Nguyễn Yên (2018), Vùi dương vật, Ngoại Nhi lâm sàng, NXB Y học 2018, tr 678 – 680.
  6. Phạm Ngọc Thạch, Lê Tấn Sơn (2013), Kết quả điều trị dị tật vùi dương vật bằng kỹ thuật Lipszyc, Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 17, Phụ bản của Số 3 - 2013,  Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch.
  7. Lê Công Thắng (2013), Vùi dương vật, Phác đồ điều trị Bệnh viện Nhi Đồng 1, 2013.
  8. Nguyễn Thị Đan Tâm (2007), Điều trị vùi dương vật, Trích Hội nghị Ngoại Nhi lần II – 2007, http://www.benhhocnam.com/Dieu-tri-vui-duong-vat.html.

TIẾNG ANH

  1. Ahmed T. Hadidi (2013), Buried penis: Classification surgical approach, Journal of Pediatric Surgery, Journal homepage:
  2.  I. C. C. King et al (2013), ISRN Urology, Volume 2013, Article ID 109349, 7 pages
  3.  P. Brisson, H. Patel, M. Chan, N. Feins (2001), The authors report their experience with a large number of children with buried penis and describe their surgical technique, Journal of surgery pediatric, March 2001 Volume 36, Issue 3, Pages 421-425.

BSCKII. Khương Minh Đạo

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 04 Tháng 11 2019 11:07
 

Bệnh thoát vị rốn trẻ sơ sinh

In

1. Bệnh thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh là gì?

Thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh là tình trạng một phần nội tạng lồi ra khỏi vị trí vốn có của nó trong cơ thể. Phần nội tạng lồi ra tạo thành một khối lồi tại vùng rốn của trẻ.

Dây rốn là cầu nối đưa chất dinh dưỡng từ mẹ sang bào thai để nuôi dưỡng bé khi còn trong bụng mẹ. Dây rốn nối với thai nhi bằng một lỗ nhỏ trong cơ thành bụng. Khi em bé được sinh ra, dây rốn sẽ được cắt bỏ. Khoảng 7 - 10 ngày sau, cuống rốn sẽ teo dần, rụng đi, vết thương khô lại và tự lành, tạo thành rốn của trẻ.

Lỗ ở thành bụng phần dây rốn đi qua dần dần tự đóng lại. Trẻ bị thoát vị rốn là trẻ có cân thành bụng không thể tự đóng lại.

Thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh thường gặp ở trẻ sinh non, sinh nhẹ cân. Tỷ lệ bé gái mắc thoát vị rốn nhiều hơn bé trai.

2. Cách phát hiện bệnh thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh:

Khối thoát vị rốn lồi lên tại vị trí lỗ rốn của trẻ. Cha mẹ có thể phát hiện bệnh bằng cách quan sát hoặc khi ấn nhẹ vào vùng rốn cảm thấy có một khối lồi lên. Khi trẻ nằm im, khối thoát vị sẽ nhỏ và chìm xuống, rất khó phát hiện. Khối thoát vị sẽ to lên, có thể nhìn rõ hơn khi bé ưỡn người, ho, khóc hoặc khi bé ngồi dậy. Thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh thường không gây đau nên không khiến cho bé khó chịu.

3. Bệnh thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không?

Bệnh thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh không đáng lo ngại vì thông thường bệnh có thể tự khỏi, cơ thể bé sẽ dần thích nghi và trở về trạng thái bình thường.

Bệnh thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh chỉ nguy hiểm nếu khối thoát vị quá lớn cần xử trí cấp cứu hoặc một phần của ruột lồng vào trong khối thoát vị và bị nghẹt không thoát ra được, máu không được lưu thông, kéo dài khiến tạng thoát vị bị hoại tử, thậm chí nhiễm trùng ổ bụng. Biểu hiện của tình trạng này là trẻ đau bụng, quấy khóc, nôn mửa. Khi đó, cha mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu ngay.

4. Chữa thoát vị rốn ở trẻ sơ sinh như thế nào?

Trong trường hợp thoát vị rốn có thể tự lành, cha mẹ không cần làm gì, không nên có tác động gì đến rốn của trẻ hay áp dụng các biện pháp dân gian như dán đồng xu lên vùng thoát vị vì rốn là bộ phận rất nhạy cảm.

Những trường hợp thoát vị rốn không gây đau đớn nhưng sau 2 tuổi vẫn chưa tự mất đi cần đến bệnh viện để kiểm tra để được bác sĩ khám và tư vấn xử trí.

Với những khối thoát vị lớn và gây đau đớn cho trẻ, khối thoát vị bị nghẹt, khối thoát vị có vùng da bên ngoài sưng nề và đỏ... thì phải can thiệp bằng phẫu thuật. Nên đưa trẻ đến bệnh viện càng sớm càng tốt để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Tổ T3G

 


Trang 9 trong tổng số 19

Trường hợp cần giúp đỡ

Hình ảnh hoạt động

  • images/stories/hinhanh/img_1932.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000336.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000338.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000350.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000353.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000362.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000371.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000378.jpg

Thông báo

Tư vấn HIV

Bệnh viên Nhi Quảng Nam
Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 05103845717
Phát trển bởi Trung Tâm CNTT & Truyền Thông Quảng Nam