Đăng nhập thành viên

Liên kết website

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay42
mod_vvisit_counterHôm Qua103
mod_vvisit_counterTuần này8004
mod_vvisit_counterTuần trước10526
mod_vvisit_counterTháng này1818
mod_vvisit_counterTháng trước25657
mod_vvisit_counterTất cả1920520

Chúng ta có: 21 Khách trực tuyến
Giáo dục sức khỏe

CHĂM SÓC TRẺ VIÊM CẦU THẬN CẤP

In

 

1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

- Nhiễm liên cầu tan huyết beta nhóm A, thường xảy ra sau khi bị nhiễm liên cầu ở da và họng.

- Một số vi khuẩn khác cũng có thể gây bệnh như tụ cầu, phế cầu.

- Một số siêu vi khuẩn.

- Do dị ứng với thuốc, các thức ăn.

2.Triệu chứng

2.1. Lâm sàng

 Khởi phát thường đột ngột, có thể có dấu hiệu báo trước như mệt mỏi, chán ăn, cảm giác tức mỏi vùng hông cả hai bên. Cũng có bệnh nhân đến còn triệu chứng sốt, viêm họng, viêm da.

Giai đoạn toàn phát biểu hiện lâm sàng bằng các triệu chứng sau:

- Phù:

- Đái máu

               + Đại thể: nước tiểu có màu như nước rửa thịt kéo dài từ vài ngày đến 1 tuần

                + Vi thể: chỉ thấy trên kính hiển vi kéo dài vài tháng

- Đái ít hoặc vô niệu:

- Cao huyết áp: trên 60% bệnh nhân có tăng huyết áp.

-  Suy chức năng thận tùy theo mức độ đái ít hay vô niệu

2.2. Cận lâm sàng

- Protein niệu : thường tăng không quá 1g/24giờ

- Hồng cầu niệu, trụ hồng cầu, trụ hạt chứng tỏ viêm thận

- Thường có thiếu máu nhẹ, bình sắc hoặc nhược sắc.

- Tốc độ máu lắng tăng.

- ASLO tăng là bằng chứng nhiễm liên cầu khuẩn

3. Điều trị

- Ăn nhạt và nghỉ ngơi trong thời gian bị bệnh.

- Dùng kháng sinh toàn thân khi còn dấu hiệu nhiễm trùng.

- Vệ sinh răng miệng hằng ngày.

- Sử dụng corticoid tuỳ từng trường hợp.

4. Thực hiện chăm sóc cơ bản:

- Đặt bệnh nhân nghỉ ngơi, nằm đầu ở tư thế đầu cao.

- Nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động, việc nghỉ ngơi tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh nhân, đặc biệt căn cứ vào lượng nước tiểu:

+ Dưới 300 ml/24 giờ, cho bệnh nhân nghỉ tuyệt đối tại giường và kê đầu cao.

+ Từ 300 - 500 ml/24 giờ, bệnh nhân có thể đi lại khi cần thiết.

+ Trên 500 ml/24 giờ, bệnh nhân có thể đi lại và làm những việc nhẹ nhàng.

+ Luôn giữ ấm cơ thể bệnh nhân, không dùng nước lạnh tắm hay rửa tay chân vì người bệnh có thể dễ bị viêm cầu thận do lạnh khi bệnh nhân đang bị nhiễm liên cầu.

- Chế độ ăn và nước uống:

+ Nước uống:   cần căn cứ vào tình trạng phù, nếu phù ít chỉ xuất hiện ở mắt cá hay ở mi mắt thì lượng nước đưa vào kể cả ăn và uống trong ngày khoảng 500 ml và cộng thêm với lượng nước tiểu trong 24 giờ. Nếu bệnh nhân bị phù nhiều thì lượng nước đưa vào kể cả ăn và uống khoảng 300 ml cộng với lượng nước tiểu trong ngày.

+ Lượng đạm: căn cứ vào tình trạng ure máu có ở trên bệnh nhân, nếu:

+ Urê máu dưới 0,5g/l có thể cho bệnh nhân ăn nhiều đạm thực vật, ít đạm động vật. Số lượng đạm đưa trong một ngày vào khoảng 0,25g/kg trong lượng cơ thể.

+ Urê máu từ 0, 5 đến 1g/l, nên dùng đạm thực vật, không dùng đạm động vật và lượng đạm đưa vào trong ngày ít hơn 0,25g/kg trọng lượng.

+ Urê máu trên 1g/l chế độ ăn chủ yếu là glucid và một số acid amin cần thiết.

+ Muối: hạn chế lượng muối đưa vào khoảng dưới 1g/ngày, cần chú ý các trường hợp phù nhiều và tình trạng tăng huyết áp ở bệnh nhân. Hạn chế các chất có nhiều kali nhất là chuối và cam khi bệnh nhân có tình trạng tăng kali máu hay lượng nước tiểu trong ngày ít hoặc bệnh nhân có suy thận.

+ Vệ sinh hàng ngày cho bệnh nhân: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân. áo, quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ. Nếu có ổ loét trên

- Theo dõi:

  + Dấu hiệu sinh tồn:  Hàng ngày phải theo dõi sát tình trạng mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở của bệnh nhân. Chú ý tình trạng huyết áp.

  + Theo dõi các triệu chứng khác:

 Nước tiểu: theo dõi về số lượng, màu sắc.

 Cân nặng để đánh giá tình trạng phù.

 Điện tâm đồ, chức năng thận, protein niệu...

 Theo dõi các biến chứng của viêm cầu thận cấp.

5. Giáo dục sức khoẻ:

- Để bệnh nhân và gia đình biết về tình hình bệnh tật.

- Các biến chứng có thể xảy ra khi bị viêm cầu thận cấp.

-Để bệnh nhân biết về chế độ nghỉ ngơi và sinh hoạt.

- Cần có chế độ ăn, uống thích hợp.

- Có chế độ nghỉ ngơi và làm việc thích hợp.

- Tránh lạnh.

- Vệ sinh cá nhân sạch sẽ, chú ý răng, miệng, da và tai mũi họng.

- Điều trị triệt để các ổ nhiễm trùng.

- Tái khám định kỳ

                                                                                                                                                                                                                             CN Nguyễn Thị Thanh Thủy

 

CÁCH NHẬN BIẾT VÀ XỬ TRÍ VIÊM PHỔI TRẺ EM TẠI NHÀ

In

 

- Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh thường gặp nhất ở trẻ em, nhất là ở trẻ em dướ 5 tuổi. Người ta ước tính rằng mỗi năm một trẻ dưới 5 tuổi có thể mắc phải từ 3 – 8 lần NKHHCT.

- Trong phần lớn trường hợp, bé có thể tự khỏi trong vòng 5 – 7 ngày nếu được chăm sóc đúng cách. Tuy nhiên, khoảng 1/3 các trường hợp, bệnh sẽ diễn tiến thành viêm phổi và cần phải được điều trị cẩn thận bằng cách cho trẻ uống thuốc kháng sinh thích hợp để tránh những biến chứng nặng nề, thậm chí tử vong.

- Do nhiều hoàn cảnh và lý do khác nhau, tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vẫn còn khá nhiều trẻ dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cho biết hàng năm có gần 13 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới tử vong, trong số đó 4,3 triệu trẻ chết vì NKHHCT mà chủ yếu là viêm phổi.

I. Làm thế nào để phát hiện sớm viêm phổi?

- Ba câu hỏi lớn mà chúng ta cần trả lời là:

      1. Làm thế nào để có thể phát hiện thật sớm là trẻ bị viêm phổi?

      2. Làm thế nào để biết là viêm phổi đã nặng cần phải cho trẻ nhập viện điều trị?

      3. Đâu là dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã tới mức nguy hiểm cần phải đi bệnh viện cấp cứu ngay lập tức?

- TCYTTG đã nghiên cứu và tìm ra các phương tiện rất đơn giản, dễ dàng mà lại chính xác để giúp chúng tacó thể áp dụng ngay tại nhà.

1. Làm thế nào để có thể phát hiện thật sớm là trẻ bị viêm phổi?

- Khi trẻ bị viêm phổi, phổi của trẻ sẽ mất tính mềm mại và không thể giãn nở dễ dàng khi trẻ hít thở mà hậu quả là trẻ có thể bị thiếu oxy. Vì vậy trẻ buộc phải thở nhanh hơn dể bù đắp lại sự thiếu hụt này.

- Dựa theo công trình nghiên cứu khoa học quy mô tại nhiều nơi trên thế giới, TCYTTG đã thấy rằng: thở nhanh là triệu chứng xuất hiện sớm nhất khi trẻ vị viêm phổi, sớm hơn cả các dấu hiệu có được khi nghe phổi bằng ống nghe và cũng là triệu chứng rất dễ phát hiện ở mọi lúc, mọi nơi chỉ bằng một phương tiện rất dễ tìm: đồng hồ có kim giây.

- Chúng ta có thể đếm được nhịp thở của trẻ trong trọn một phút để xem trẻ có thở nhanh hay không. Gọi là thở nhanh khi:

·       Trẻ dưới 2 tháng nhịp thở từ 60 làn/ phút trở lên

·        Trẻ từ 2 tháng – 1 tuổi nhịp thở từ 50làn/ phút trở lên

·       Trẻ từ 1 tuổi – 5 tuổi nhịp thở từ 40 làn/ phút trở lên

Khi đó trẻ đã có triệu chứng viêm phổi, cần được đưa đến cơ sở y tế thăm khám và điều trị ngay.

- Vì nhịp thở có thể tăng khi trẻ gắng sức (bú, quấy khóc...) nên chúng ta cần phải đếm nhịp thở khi trẻ nằm im, tốt nhất khi trẻ ngủ.

2. Dấu hiệu của viêm phổi nặng

- Khi viêm phổi diễn tiến thành nặng, phổi sẽ ngày càng mất tính mềm mại có thể trở nên đặc cứng làm trẻ phải gắng sức nhiều để thở. Khi đó các cơ hô hấp, đặc biệt là cơ hoành phải tăng cường co bóp . Khi đó phần dưới lồng ngực của trẻ sẽ bị cơ này kéo lõm vào khi trẻ hít vào.

- Như vậy khi trẻ có dấu hiệu thở co rút lồng ngực thì bệnh viêm phổi đã nặng, cần nhập viện ngay để điều trị.

- Để nhận ra chính xác dấu hiệu này, chúng ta cần vén áo trẻ cao lên để thấy rõ vùng ngực và bụng trẻ, quan sát khi trẻ nằm yên, không bú, không khóc.

3. Các dấu hiệu nguy hiểm

Là các dấu hiệu cho biết trẻ đang trong tình trạng nguy kịch, tính mạng đang bị đe dọa, cần phải đưa trẻ đi bệnh viện cấp cứu ngay lập tức để còn có thể cứu sống được trẻ. Những dấu hiệu này không chỉ có trong bệnh viêm phổi mà còn có thể có trong nhiều loại bệnh nặng khác cũng cần được cấp cứu kịp thời.

- Ở trẻ dưới 2 tháng, đó là: bỏ bú hoặc bú kém, co giật, trẻ ngủ li bì, khó đánh thức trẻ dậy, sốt hoặc lạnh, thở khò khè.

- Ở trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi, đó là: trẻ không thể uống được gì cả, co giật, ngủ li bì, khó đánh thức, thở có tiếng rít, suy dinh dưỡng nặng.

III. Cách chăm sóc trẻ bị viêm phổi tại nhà

- Khi bị viêm phổi, trẻ có thể được điều trị tại nhà. Bốn công việc cần phải làm là:

      1. Cho trẻ uống kháng sinh thích hợp.

      2. Điều trị các triệu chứng kèm theo: sốt, khò khè.

      3. Biết cách chăm sóc trẻ tại nhà.

      4. Biết được khi nào cần đưa trẻ đến khám lại bao gồm tái khám theo hẹn và khám lại ngay lập tức khi trẻ trở nặng.

           

      1. Điều quan trọng nhất để trẻ có thể khỏi bệnh là trẻ cần phải được cho uống kháng sinh thích hợp đúng cách, đủ liều và đủ thời gian. Khi được thầy thuốc chỉ định, các bậc cha mẹ cần nhận biết đúng dạng thuốc cần cho trẻ uống, liều lượng mỗi lần uống, số lần uống trong ngày và số ngày cần cho trẻ uống thuốc. Đối với các loại thuốc viên, cần tán nhỏ viên thuốc trước khi cho trẻ uống, có thể pha thêm một ít đường để bé có thể uống dễ dàng hơn. Nếu trẻ ói trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc, cần cho bé uống lại một liều khác.

      Tuy nhiên cũng cần tránh lạm dụng kháng sinh khi trẻ chỉ bị cảm ho thông thường. Thật thế ngoài viiệc tốn kém, tác dụng phụ trước mắt hay lờn thuốc về lâu về dài, người ta cũng đã chứng minh được rằng việc lạm dụng kháng sinh như thế cũng không ngừa được biến chứng vi6em phổi ở trẻ chỉ bị ho cảm thông thường.

2. Tùy trường hợp mà thầy thuốc sẽ cho trẻ các loại thuốc cần thiết khác như thuốc hạ sốt (Paracetamol), thuốc điều trị khò khè (Salbutamol, Trebutaline). Cần cho trẻ uống đúng theo hướng dẫn dù rằng các loại thuốc này cũng khá an toàn cho trẻ em.

3. Cách chăm sóc trẻ tại nhà

- Cần phải tăng cường cho trẻ ăn, bú, tránh các tập quán kiêng ăn. Cần cho trẻ ăn đủ chất, bú đều đặn khi đang bệnh. Khi trẻ vừa khỏi bệnh cũng cần bồi dưỡng thêm cho trẻ mau lại sức. Đối với trẻ nhỏ, khi mũi bị nghẹt, tắc, trẻ sẽ khó bú, khó ăn hơn. Vì vậy cần thông thoáng mũi, để trẻ có thể bú, ăn dễ dàng hơn.

- Cần cho trẻ uống nhiều nước hoặc tăng cường cho trẻ bú. Đây là điều rất quan trọng vì trẻ bị viêm phổi cần được cung cấp nhiều nước để làm loãng đàm, dịu họng, giảm ho.

- Riêng đối với vấn đề ho, chúng ta cần lưu ý: khi trẻ bị NKHHCT, ho chính là một phản xạ có lợi để tống đàm dãi ra ngoài, giúp đường thở được thông thoáng cho trẻ có thể hít thở dễ dàng. Vì vậy không nên lạm dụng các loại thuốc ho để kìm hãm phản xạ có lợi này của trẻ nhất là khi hiện nay có nhiều loại thuốc ho có thể gây ngộ độc, tác dụng phụ quan trọng ở trẻ em nếu dùng không đúng cách. Trên thực tế nếu dùng đúng loại kháng sinh thích hợp để trị viêm phổi cũng sẽ giúp trẻ giảm ho nhanh chóng. Chỉ khi nào trẻ ho nhiều dẫn đến những hậu quả xấu cho trẻ như nôn ói, mất ngủ, đau tức ngực, đau rát họng... chúng ta có thể cho trẻ dùng các thuốc ho an toàn. TCYTTG cũng như Bộ Y tế khuyến cáo nên dùng các loại dược thảo, thuốc nam an toàn đã từng được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian: tắc (quất) chưng đường, rau tần dầy lá, mật ong, gừng 

4. Vấn đề tái khám

- Tái khám theo hẹn: trẻ cần được bác sĩ khám lại sau 2 ngày để đánh giá xem thuốc kháng sinh này có hiệu quả tốt hay không. Ngay trong trường hợp tốt nhất (trẻ thở trở lại bình thường, hết sốt, ăn – bú khá hơn) trẻ cũng cần phải tiếp tục cho uống kháng sinh đủ thời gian là 5 ngày.

- Nếu sau 2 ngày tái khám, nếu trẻ còn thở nhanh, thầy thuốc sẽ cho bé dùng một loại kháng sinh cần thiết khác hoặc cho cháu nhập viện điều trị.

- Khám lại ngay: cũng cần lưu ý theo dõi và đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế, bệnh viện nếu thấy trẻ có một trong các dấu hiệu sau: thở khó khăn (thở nhanh hơn - mạnh hơn, thở co rút lồng ngực), trẻ không thể uống được nước, trẻ trở nên mệt hơn. Đây là những dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã trở nặng, cần nhập viện ngay.

                                                                                                                                                                                                                              CN Nguyễn Thị Thanh Thủy

 

 

 

Phòng ngừa và khăc phục chứng biếng ăn ở trẻ em

In

Đa số các trẻ em có các rối loạn hành vi ăn uống như biếng ăn, sợ thức ăn, đến bữa ăn thấy chén cơm là…chạy trốn. Có trẻ ăn uống thiên lệch như chỉ ăn cơm với nước tương, không chịu ăn thịt cá, uống sữa hoặc ăn rau. Điều đó dẫn đến thiếu hụt các chất dinh dưỡng gây sự lo lắng. Chỉ có khoảng 5% số trẻ em ra đời lười bú nhưng đến 2-3 tuổi có đến 30-40% trẻ biếng ăn. Như vậy, nguyên nhân chủ yếu do chính chúng ta, các bậc cha mẹ tạo nên. Chúng tôi đề nghị 10 biện pháp phòng ngừa sau đây:

 

1.     Tập cho trẻ ăn đa dạng nhiều loại thức ăn khác nhau từ gia đoạn ăn dặm vì lúc này vị giác của trẻ chưa phát triển, trẻ dễ dàng tiếp nhận các loại thức ăn và mùi vị khác nhau. Trẻ sẽ có thói quên ăn được nhiều loại thức ăn khi lớn lên.

2.     Không cho thuốc trị bệnh vào thức ăn như sữa, nước trái cây, chuối, cháo…..làm trẻ sợ và luôn cảnh giác với thức ăn.

3.     Không cần thiết canh quá kỹ từng bữa ăn, từng muỗng bột, vài chục ml sữa…bạn hãy thỏa mái hơn. Có lúc trẻ ăn ít một chút rồi sau đó sẽ ăn bù, bạn nên nhớ tổng số lượng thức ăn trong ngày quan trọng hơn số lượng thức ăn mỗi bữa và điều quan trọng nhất là tình trạng dinh dưỡng của bé, bé lên cân đều, điều đó có nghĩa là bé ăn đủ.

4.     Làm cho bé thích thú với thức ăn bằng các câu chuyện ngộ nghĩnh về thức ăn, màu sắc xanh đỏ của rau, cà rốt…thức ăn có mùi vị hấp dẫn và được thay đổi theo thức ăn của gia đình giúp bé ham ăn hơn.

5.     Đừng quá cứng nhắc đặt bé vào ghế ăn, khăn yếm tỉnh tề. Hãy cho bé ngồi thỏa mái, nơi ưa thích. Để bé tự xúc ăn dù còn vụng về , như vậy bé sẽ thích thú hơn. Chén ly muỗng có hình thù nghộ nghĩnh làm cho bữa ăn của bé thật sự trở thành cuộc vui. Bạn hãy nhớ tuổi này bé không chỉ ăn mà còn bận rộn khám phá cả thế giới.

6.     Lớn lên một chút, bé muốn được hỏi thích ăn gì? Cá hay thịt heo, rau muống hay bí đỏ? Thích chiên hay luộc …bé có thể tham gia đi chợ cùng mẹ và phụ nhặt rau, rửa cà …chắc chắn bữa ăn sau đó bé sẽ ăn ngon miệng hơn.

7.     Không cho trẻ ăn quà vặt trước hai bữa ăn chính sẽ làm trẻ ngang dạ khi vào bữa ăn.

8.     Đừng dùng thức ăn vào mục đích khen thưởng hay trừng phạt, lâu ngày sẽ dẫn đến rối loạn hành vi ăn uống. trẻ dễ có khuynh hướng dùng việc ăn uống để phản đối hay gây sức ép với cha mẹ.

9.     Có những giai đoạn bé ham thích và ăn liên tục một thức ăn nào đó. Hãy để bé ăn thỏa thích, bé sẽ trở lại ăn uống bình thường sau vài ngày hoặc vài tuần sau đó.

10. Có những giai đoạn biếng ăn sinh lý, thường trùng lặp với lúc trẻ học hỏi các kỹ năng mới như tập ngồi, tập đi, tập nói, ….trong vài tuần trẻ ăn ít hơn nhưng vẫn chơi vui vẻ, đó là mãi học, quên ăn. Đừng ép uổng quá đáng làm bé biếng ăn hơn.

Khắc phục tình trạng biếng ăn của trẻ em nhiều khi không đơn giản nhất là các tình trạng này xảy ra từ nhiều tháng, nhiều năm. Có thể lúc đầu do nguyên nhân tâm lý hoặc do cách cho ăn quá đơn điệu dẫn đến biếng ăn và suy dinh dưỡng. Trẻ biếng ăn lâu ngày thường thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng như: đạm, vitamin, kẽm, sắt….Thiếu các chất này càng làm trẻ biếng ăn hơn suy dinh dưỡng nặng hơn và trẻ suy dinh dưỡng lại dễ mắc bệnh hơn và lại càng biếng ăn hơn. Biếng ăn trở thành do nhiều nguyên nhân cần được điều trị toàn diện và điều quyết định sự thành công là sự kiên trì hợp tác và hiểu biết của bậc cha mẹ và người nuôi trẻ có thói quen ăn uống tốt. 

                                                                                                                                                                                                                              ThS.BS Nguyễn Đình Thoại

 

Viêm cầu thận cấp

In

Viêm cầu thận cấp là một bệnh thường gặp nhất là ở trẻ em, hầu hết là ở lứa tuổi 5-10 tuổi. Tiên lượng nhìn chung là tốt nhưng sau điều trị, dù đã ra viện bệnh nhi vẫn cần được theo dõi, đến khi xác định bệnh đã khỏi hoàn toàn (tất cả các xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu… trở lại bình thường). Mục đích là không để từ viêm cầu thận cấp sang viêm cầu thận mạn, suy thận mạn… cuối cùng là phải ghép thận. Ngoài thể bệnh nhẹ còn gặp tiến triển nặng, tuy ít như huyết áp tăng cao, vô niệu ( thận không lọc được nước tiểu) gây nhiều biến chứng có khả năng làm bệnh nhi tử vong.

I. NGUYÊN NHÂN

Viêm cầu thận cấp là bệnh nhiễm khuẩn dị ứng, 85% do liên cầu khuẩn tan khuyết β nhóm A gây ra, nó cũng là thủ phạm của bệnh tim. Ngoài ra còn do một số vi khuẩn khác như tụ cầu, phế cầu…

II. DẤU HIỆU

- Trước khi xuất hiện các dấu hiệu của bệnh lý thận, trẻ thường bị mắc viêm họng đỏ, bệnh ngoài da, mụn nhọt, lở, viêm mủ da.

- Khởi đầu bằng sốt nhẹ hoặc không sốt, mệt mỏi, chán ăn, đau sau     lưng.

- Phù, lúc đầu ở mặt, mi mắt nặng, mặt nặng, sau ở chân; phù có thể    nhẹ, có thể nặng gây phù toàn thân.

- Đái ít, nước tiểu vẩn đục màu đỏ hoặc sẫm màu, nặng thì vô niệu.               Xét nghiệm nước tiểu có nhiều protein (1-2g/lít), nhiều hồng cầu, trụ niệu           lấm tấm.

- Huyết áp cao hơn bình thường, nặng thì huyết áp cao nhiều (tối đa    140 mmHg), trẻ có dấu hiệu thần kinh (co giật), có biểu hiện suy tim (khó thở, gan to).

III. XỬ TRÍ

 

Việc chủ yếu của gia đình bệnh nhi là biết cách chăm sóc, chế độ nuôi dưỡng và phòng ngừa, phải đến bệnh viện để điều trị bệnh.

1. Săn sóc: Nằm nghỉ hoàn toàn tại giường từ 3-4 tuần lễ, được đi lại nhẹ nhàng khi bác sĩ cho phép.

2. Chế độ ăn uống: Kiêng mặn, ăn bột sữa, bột đường, cháo đường, cháo sữa với lượng nước giới hạn trong 2-3 ngày, sau đó tăng dần từ từ trở lại chế độ bình thường khi huyết áp giảm rồi trở về bình thường; bớt phù hoặc hết, lượng nước tiểu tăng rồi trở lại bình thường.

Nếu nước tiểu đái ra ít, urê máu cao phải hạn chế thịt, hoa quả có nhiều kali. Nếu còn phù nhiều, đái vẫn ít, lượng nước uống và trong đồ ăn tương ứng với lượng nước tiểu thải ra. Nếu huyết áp cao cần ăn nhạt hoàn toàn. Trẻ còn bú mẹ thì vẫn cho bú bình thường.

3. Chống nhiễm khuẩn: Penicilline 1.000.000 đv/ngày, tiêm hoặc uống làm hai lần dùng trong 10 ngày.

4. Nếu có huyết áp cao, vô niệu thì có chỉ định điều trị riêng

- Kết quả tốt: sau 2-3 tuần điều trị, phù giảm, lượng nước tiểu tăng,       huyết áp trở lại bình thường. Sau 1 tháng điều trị protein niệu hết nhưng       hồng cầu vẫn tồn tại trong nước tiểu kéo dài tới một năm.

- Kết quả kém: 1 tháng sau điều trị huyết áp vẫn còn cao; 6 tháng sau   điều trị protein niệu vẫn còn 1g/24 giờ.

IV. PHÒNG NGỪA

1. Phòng ngừa cho trẻ em nói chung

Cần phát hiện và chữa các ổ nhiễm vi khuẩn ở họng-xoang, bệnh mụn nhọt, mủ da...

     Chú ý phòng lạnh, chống rét cho trẻ.

2. Đối với bệnh nhi sau ra viện vẫn cần được theo dõi bệnh như nói ở phần đầu

- Khi có nhiễm khuẩn họng – xoang tái phát, bệnh nhiễm khuẩn ngoài   da phải sớm điều trị diệt khuẩn.

- Ba tháng sau mắc bệnh mới được hoạt động thể lực vừa phải; 6 tháng sau mới được hoạt động thể lực mạnh, nhưng cấm tắm lạnh cho đến khi nước tiểu bình thường.

                                                                                                                                                                                                    BS.CKI Trần Thị Thủy

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 14 Tháng 1 2014 09:47
 

Tiêu chảy cấp

In

 

Tiêu chảy là một nguyên nhân hàng đầu gây đau ốm và suy dinh dưỡng cho trẻ em. Hằng năm có đến hàng trăm trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy phải nhập bệnh viện nhi Quảng Nam. Nguyên nhân chính gây ra tử vong của tiêu chảy cấp là do cơ thể bị mất nước và điện giải theo phân. Hiện nay đã có biện pháp điều trị đơn giản và hiệu quả làm giảm tỉ lệ tử vong do tiêu chảy,hầu hết các trường hợp không cần thiết phải nhập viện.

Các bà mẹ có thể xác định trẻ bị tiêu chảy cấp khi trẻ đi ngoài phân lỏng hơn hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ. Các trẻ nhỏ còn bú mẹ thường đi ngoài nhiều lần trong một ngày, phân nhão hoặc mềm một cách thường xuyên thì không phải là tiêu chảy. Trẻ bị tiêu chảy khi trẻ đi ngoài phân lỏng hơn và nhiều lần hơn thường lệ. Tiêu chảy cấp kéo dài không quá 14 ngày, trẻ có thể bị nôn và sốt kèm theo. Tiêu chảy gây suy dinh dưỡng do giảm hấp thu, trẻ chán ăn, nôn hoặc do kiêng khem. Các tác nhân thường gây bệnh ở trẻ em là virut, vi khuẩn, kí si trùng.

Bệnh tiêu chảy có đường lây truyền thông thường là đường phân, miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm hay lây lan trực tiếp từ người sang người hoặc tiếp xúc với phân người bệnh. Một số tập quán sinh hoạt có thể làm tăng nguy cơ lây lan bệnh như: không rửa tay sau khi đi ngoài, trước khi chế biến thức ăn, không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, cai sữa cho trẻ sớm trước một tuổi, sử dụng bình bú để nuôi trẻ, dùng nước uống đã bị ô nhiễm, không xử lí phân một cách hợp vệ sinh. 

- Hầu hết các lượt tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu của cuộc đời, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm trẻ 6-12 tháng tuổi, lúc mới tập cho ăn dặm.

- Nguyên tắc điều trị là phải phát hiện sớm, bồi phụ nhanh, đủ nước và các chất điện giải mà trẻ bị mất do tiêu chảy. Cách điều trị tuỳ thuộc vào mức độ mất nước:

-Mất nước nhẹ : Trẻ tỉnh táo, miệng ướt, khóc có nước mắt, uống nước bình thường. Điều trị sớm tại nhà ngay khi mới bị tiêu chảy thường phòng được tình trạng mất nước và suy dinh dưỡng. Nên cho trẻ uống nhiều nước và điện giải hơn bình thường, có thể dùng nước cháo muối, nước gạo rang, nước ORS, cho uống sau mỗi lần tiêu chảy, uống đến khi trẻ hết khát. Theo dõi sát tình trạng mất nước của trẻ, nếu không đỡ mà nặng lên thì phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế.

-Mất nước vừa: vật vã, kích thích, mắt trũng, miệng lưỡi khô, khóc không có nước mắt, da khô, uống nước háo hức, đái ít. Phải điều trị tại cơ sở y tế. Tiếp tuc cho trẻ uống nước, điện giải dựa theo cân nặng của trẻ. Có thể cho trẻ uống bằng cốc, từng thìa, nếu trẻ nôn thì chờ 10 phút sau lại cho uống tiếp.

-Mất nước nặng:mệt lả, li bì, hôn mê, mắt rất trũng, da khô, khóc không có nước mắt, uống kém hoặc không uống được. Đây là tình trạng mất nước năng có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng, cần được điêù trị cấp cứu tại cơ sở y tế. Bù nhanh chóng lượng dịch đã mất qua đường tĩnh mạch.

 - Người chăm sóc phải cặp nhiệt độ cho trẻ 4-6 giờ /1lần, theo dõi số lượng phân đi ngoài trong ngày, lượng nước tiểu, đánh giá tri giác của trẻ. Không được dùng kháng sinh nếu không phải là tiêu chảy do vi khuẩn như lỵ, tả...   Việc dùng các loại thuốc này phải được chỉ định của nhân viên y tế nhằm tránh gây rối loạn tiêu hoá kéo dài, không dùng các loại thuốc chống nôn, cầm tiêu chảy.

Tiêu chảy là nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng vẫn được hấp thu trong lúc bị tiêu chảy, vì vậy có thể phòng cho trẻ khỏi bị sụt cân bằng cách tiếp tuc cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng. Các loại thức ăn được dùng như là ngũ cốc, dầu thực vật, thịt, cá, trứng, rau. Các nước hoa quả tươi, chuối nghiền là những loại thức ăn có lợi vì cung cấp thêm Kali. Thức ăn phải nấu lúc còn tươi, để tránh khỏi bị vi khuẩn phát triển, được nghiền kĩ để dễ tiêu hoá, cần cho ăn 3-4 giờ / 1lần. Sau khi hết tiêu chảy cho trẻ ăn thêm ít nhất 1bữa mỗi ngày trong 2 tuần. Trẻ suy dinh dưỡng có thể phải cho ăn chế độ ăn này trong thời gian dài hơn cho tới khi hết suy dinh dưỡng . Trẻ nhỏ dưới 6 tuổi thì sữa bột cần pha loãng 1/2 trong 2 ngày sau 2 ngày thì sữa được cho ăn với cách pha như thường lệ. Trẻ lớn hơn cho ăn sữa như thường lệ trong suốt thời gian bị bệnh cần tiếp tục cho bú sữa mẹ .

Cách phòng bệnh: nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu nhằm tăng cường miễn dịch với bệnh tật cho trẻ, sau đó cho ăn bổ sung kèm bú mẹ. Không nên cho trẻ bú chai, bú bình, ngậm vú giả. Tạo tập quán ăn tốt cho trẻ: cho trẻ ăn bổ sung sau 6 tháng, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, Tạo thói quen cho trẻ rửa tay trước khi ăn và bà mẹ trước khi cho trẻ ăn, sử dụng nguồn nước sạch, chế biến, bảo quản thức ăn an toàn, hợp vệ sinh.

                                                                                                                                                                                                                                   BS.CKI Nguyễn Thị Hồng Diệp

 

         

 

 
Các bài viết khác...


Trang 2 trong tổng số 2

Trường hợp cần giúp đỡ

Hình ảnh hoạt động

  • images/stories/hinhanh/img_1932.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000336.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000338.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000350.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000353.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000362.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000371.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000378.jpg

Thông báo

Tư vấn HIV

Bệnh viên Nhi Quảng Nam
Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 05103845717
Phát trển bởi Trung Tâm CNTT & Truyền Thông Quảng Nam