Đăng nhập thành viên

Liên kết website

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay5
mod_vvisit_counterHôm Qua134
mod_vvisit_counterTuần này5564
mod_vvisit_counterTuần trước4963
mod_vvisit_counterTháng này5564
mod_vvisit_counterTháng trước13294
mod_vvisit_counterTất cả1873986

Chúng ta có: 5 Khách trực tuyến
Giáo dục sức khỏe

Giá thuốc vật tư năm 2019-2020

In

Xem nội dung tại đây

 

Theo dõi dài kì và các yếu tố tiên lượng trên trẻ bị viêm não cấp tính

In

Viêm não (encephalitis) là bệnh lý nguy hiểm, có thể gặp trên trẻ em trên khắp thể giới. Viêm não là một tình trạng viêm của nhu mô não, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh – tâm thần khu trú hoặc lan tỏa. Bệnh có nhiều căn nguyên, chủ yếu gồm: các virus, vi khuẩn nội bào, ký sinh trùng gây miễn dịch trung gian, nguyên nhân chủ yếu thường do virus; trong đó các nguyên nhân thường gặp ở trẻ em gồm: viêm não Nhật Bản, Herpes simplex và Enterovirus. Đây là một bệnh lý cấp tính, khởi phát đột ngột và bệnh thường tiến triển nhanh chóng; có thể khiến một trẻ khỏe mạnh trở nên suy nhược trong một thời gian ngắn. Bệnh cạnh đó, Viêm não là bệnh lý khó chẩn đoán chính xác, ngay cả với các bác sĩ có kinh nghiệm lâu năm, cũng như gặp nhiều khó khăn trong việc xác định bệnh nguyên, lựa chọn phương pháp điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân.

Trong những trường hợp Viêm não nặng, bệnh nhân có thể có sốt cao và kèm theo các tiệu chứng liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương bao gồm:

  • Nhức đầu dữ dội
  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Cứng cổ
  • Lú lẫn
  • Mất định hướng
  • Thay đổi nhân cách
  • Co giật
  • Rối loạn nghe nói
  • Ảo giác
  • Mất trí nhớ
  • Đờ đẫn
  • Hôn mê

Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu trên thường không điển hình và khó phát hiện; tuy nhiên vẫn có một số dấu hiệu quan trọng giúp định hướng chẩn đoán. Các dấu hiệu này bao gồm:

  • Nôn mửa
  • Thóp phồng (nếu còn thóp)
  • Khóc không thể dỗ nín hoặc khóc tăng lên khi trẻ được bồng lên hoặc làm thay đổi tư thế
  • Gồng cứng người

Cụ thể, theo nghiên cứu trên các trẻ được chẩn đoán viêm não của bệnh viện Nhi Colorado , trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 đã ghi nhận các dấu hiệu, triệu chứng có thể gặp trên bệnh nhân Viêm não:

 

Tính chất

Tổng bệnh nhân

(N=76)

Nhóm bệnh nhân được theo dõi

(N=49)

Nhóm bệnh nhân không được theo dõi

(N=27)

N

%

N

%

N

%

Thông tin sinh học

Độ tuổi mắc bệnh

9

2.6-12.7

6.8

2.6-12.8

7.9

2.4-11.6

Giới tính (Nam)

41

54

25

51

16

59.3

Biểu hiện khi nhập viện

Bệnh lý khác kèm theo

11

14.5

8

16.7

3

10.7

Diễn tiến bệnh cấp tính

37

49.3

21

44.7

16

57.1

Đau đầu

30

39.3

22

44.9

8

28.6

Thay đổi hành vi

29

38.2

20

41.2

9

32.1

Thay đổi tri giác

77

100

49

100

28

100

Sốt

49

64

31

63.3

18

64.3

Co giật

47

62

29

60.4

18

64.3

Dấu hiệu thần kinh trung ương bất thường

33

43

23

46.9

10

35.7

Có ≥ 1 triệu chứng thực thể

45

59.2

29

60.4

16

57.1

Giảm khả năng vận động

37

48.1

23

47.9

14

50

Giảm khả năng phối hợp vận động (tổn thương tiểu não)

21

27.6

14

29.2

7

25

Rối loạn vận động

8

10.7

6

12.8

2

7.1

Các rối loạn tâm thần

22

28.9

16

33.3

6

21.4

Các thay đổi trên cận lâm sàng

Tăng bạch cầu lympho trong dịch não tủy

61

80

40

83.3

21

75

Hình ảnh bất thường trên Cộng hưởng từ/ Chụp cắt lớp vi tính

39

51.3

26

54.2

13

48.4

Hình ảnh sóng bất thường trên Điện não đồ

47

71.2

31

73.8

16

66.7

Triệu chứng khi ra viện

Còn ≥ 1 dấu hiệu thực thể

18

23.7

11

22.9

7

25

Giảm khả năng phổi hợp vận động (Tổn thương tiểu não)

4

5.3

2

4.2

2

7.1

Các rối loạn vận động

3

4

1

2.1

2

7.1

Các rối loạn tâm thần

8

10.5

5

10.4

3

10.7


Viêm não là một bệnh lý khó tiên lượng, phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên đa phần các trường hợp được chẩn đoán Viêm não thường không xác định rõ nguyên nhân. Với những trường hợp này, việc tiên lượng cho trẻ chỉ chắc chắn khi các biến chứng đã rõ ràng. Bệnh Viêm não có thể hình thành nhiều biến chứng mạn tính, bao gồm động kinh, chậm phát triển tinh thần, giảm khả năng học tập, đau đầu mạn tính ... Trong nghiên cứu trên các trẻ được chẩn đoán Viêm não tại bệnh viện Nhi Colorado đã thống kê các biến chứng mạn tính có thể gặp ở trẻ như sau:

Biến chứng

Số lượng trẻ

ghi nhận

Phần trăm

Biến chứng thần kinh

Giảm chức năng thần kinh

38

78

Yếu/ liệt cơ

16

33

Thay đổi hành vi

15

31

Giảm khả năng nhận thức

17

35

Trầm cảm

18

37

Rối loạn thị giác

17

35

Rối loạn khả năng nói

15

31

Rối loạn giấc ngủ

9

18

Rối loạn khả năng tiếp thu

20

41

Rối loạn khả năng nuốt

5

10

Rối loạn thính giác

3

6

Đau đầu

17

35

Co giật

17

35

Các nhu cầu y tế cần tiếp cận

Thuốc chống động kinh

12

24

Kính cận thị

13

27

Dụng cụ hỗ trợ thính giác

1

2

Âm ngữ trị liệu

24

49

Vật lý trị liệu

24

49

Hoạt động trị liệu (Occupational therapy)

24

49

          Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên 142 trẻ được chẩn đoán dựa trên mã ICD-9 với các mã bệnh: Viêm màng não, viêm não – màng não, viêm não trong suốt quá trình thực hiện. Trong số những bệnh nhân này, có 114 trẻ phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán viêm não. Phần lớn bệnh nhân có biến chứng thần kinh chủ yếu là suy giảm thần kinh vận động, biến chứng này thay đổi tùy thuộc vào từng cá thể hoặc các rối loạn phối hợp vận động (do tổn thương vùng thuộc tiểu não); những tổn thương này thường phục hồi trước khi ra viện.

          Chín mươi tư phần trăm bệnh nhân được lựa chọn nghiên cứu có sự theo dõi sau khi ra viện. Thời gian được theo dõi trung bình của các bệnh nhân được lựa chọn là 1.3 năm. Các biến chứng kéo dài được ghi nhận ở 38 trẻ. Phần lớn các biến chứng thần kinh thường gặp gồm: các bất thường tâm lý, yếu cơ, giảm khả năng nhận thức hoặc hành vi, vấn đề về thị lực và đau đầu. Mười bảy bệnh nhân (35%) được ghi nhận có các cơn co giật tiếp diễn sau khi ra viện. Những bệnh nhân đã xác định bệnh nguyên có điểm số thể chất trung bình thấp hơn so với những bệnh nhân không xác định được bệnh nguyên. Nhưng điểm số tổng quát và điểm số tâm thần của 2 nhóm bệnh nhân này không có sự chênh lệch rõ ràng. Bệnh nhân có nguyên nhân gây bệnh là HSV và Influenza có điểm số về thể chất và tâm thần thấp hơn các nhóm khác; nhóm bệnh nhân có kết quả Test enterovirus dương tính có điểm số trung bình cao hơn nhưng sự chênh lệch này không rõ rệt.

Không có mối liện hệ rõ ràng giữa các yếu tố khi nhập viện (bao gồm những thay đổi của dịch não tủy, các hình ảnh bất thường trên cộng hưởng từ-MRI, chụp CLVT hoặc điện não đồ-EEG) với các biến chứng về thần kinh khi xuất viện. Các bệnh nhân chuyển vào đơn vị hồi sức (ICU) có bất thường trên điện não đồ thường xuyên hơn các nhóm bệnh nhân khác.

Nhóm bệnh nhân có ghi nhận co giật lúc nhập viện được ghi nhận có mối liên hệ với tình trạng co giật sau 01 năm từ thời điểm được chẩn đoán viêm não.

Trong bài nghiên cứu này, các tác giả đã ghi nhận khoản 80% bệnh nhân có chẩn đoán viêm não có các biến chứng thần kinh kéo dài trong quá trình theo dõi. Mặc dù bất thường trên điện não đồ thường được ghi nhận trên bệnh nhân điển hình, các bất thường này thường không có giá trị trong việc tiên lượng cho bệnh nhân.

Với kết quả của nghiên cứu, các tác giả ghi nhận tầm quan trọng của Cộng hưởng từ không chỉ trong việc giúp chẩn đoán và định hướng nguyên nhân gây bệnh mà còn có giá trị tiên lượng cho bệnh nhân. Mặc dù các hình ảnh cộng hưởng từ bất thường (MRI) trong bài nghiên nghiên cứu này không có mối liên quan chặt chẽ với các biến chứng (như suy giảm vận động không tinh tế cũng như các bất thường khác) trên bệnh nhân ra viện; Các hình ảnh bất thường này có thể liên quan đến sự suy giảm chất lượng cuộc sống của trẻ được ghi nhận trên bảng câu hỏi PedsQL.

Có một sự tương phản được ghi nhận, mặt dù điện não đồ được xem là công cụ hữu hiệu trong việc đánh giá các suy giảm chức năng cấp tính của não; các hình ảnh bất thường trên điện não đồ lại không có giá trị tiên lượng xa trên bệnh nhân. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bất thường trên điện não đồ, đặc biệt là các hình ảnh điển hình, thường được ghi nhận trên trẻ nhập Đơn vị hồi sức tích cực (ICU). Các tác giả không tìm thấy mối liên hệ giữa các bất thường trên Điện não đồ hoặc việc điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU) với tiên lượng xa kém của trẻ. Trong bài nghiên cứu này, các ghi nhận đã cho thấy những bệnh nhân có biểu hiện cả cơ năng và thực thể khi vào viện thì thường có bất thường trên kết quả Điện não đồ, nhưng điều đó không đồng nghĩa với có mối liên hệ đến tiên lượng xa xấu trên những bệnh nhân  này.

Bài nghiên cứu này đã chỉ ra những trẻ có co giật khi vào viện có mối liên hệ với tiên lượng xa xấu của trẻ-điều đã được ghi nhận trên nhiều bài báo cáo khác. Dựa trên các bài báo cáo khác, Misra và các đồng nghiệp đã ghi nhận các cơn co giật do viêm não thường có tiên lượng 03 tháng tiếp theo xấu; bài nghiên cứu của Mirsa không xác định các biến chứng cụ thể như bài nghiên cứu này. Đồng thời nghiên cứu của Misra và các đồng nghiệp chủ yếu tập trung trên những bệnh nhân viêm não có nguyên nhân do Viêm não Nhật Bản hoặc Virut Dengue – đây là sự khác biệt rõ giữa 2 nghiên cứu. Những kết quả này làm tăng mối nghi ngờ về việc chẩn đoán sớm cũng như tối ưu hóa điều trị bệnh lý động kinh trong thời kì điều trị nội trú được xem như là một phương pháp bảo vệ thần kinh, tuy nhiên vấn đề này cần nhiều bài nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

Phần lớn các nghiên cứu về tiên lượng xa trên bệnh nhân viêm não trước đây đều tập trung vào yếu tố bệnh nguyên. Tuy nhiên, dựa trên kết quả của các case viêm não không xác định được bệnh nguyên, các tác giả đã tìm thấy sự ít liên hệ giữa bệnh nguyên và tiên lượng xa trên bệnh nhân; bởi vì các biểu hiện lâm sàng thường gặp thích hợp hơn trong việc tiên lượng xa cho bệnh nhân.  Các tác giả ghi nhận rằng việc xác định bệnh nguyên (có thể bị giới hạn bởi sự thiếu các xét nghiệm chuẩn hóa  tại cơ sở y tế) không ảnh hưởng nhiều đến kết quả đánh giá chất lượng cuộc sống.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm theo dõi dài kì trên bệnh nhân điều trị nội trú với chẩn đoán viêm não; trong số đó, trên khoản 80% bệnh nhân được lựa chọn theo dõi có ghi nhận các biến chứng kéo dài; 35% bệnh nhân có ghi nhận bệnh lý động kinh thứ phát về sau. Các hình ảnh bất thường trên cộng hưởng từ có mối liên hệ tới sự giảm chất lượng cuộc sống về sau của trẻ. Triệu chứng co giật khi vào viện có thể là tiên lượng cho bệnh lý động kinh thứ phát về sau và thường đi kèm với sự giảm điểm chất lượng cuộc sống về thể chất của trẻ. Dựa trên dữ liệu của nghiên cứu, các tác giả gợi ý các hình ảnh bất thường trên Cộng hưởng từ có thể cung cấp thêm thông tin để tiên lượng cho bệnh nhân. Các bệnh nhân này nên được theo dõi sát, bởi vì các bệnh nhân này có nguy cơ cao yếu liệt cơ kèm với sự giảm chất lượng cuộc sống; cũng như có thể tiến triển bệnh lý động kinh thứ phát sau đó.

 

THAM KHẢO:

  1. VIÊM NÃO - https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%C3%AAm_n%C3%A3o
  2. Long-Term Outcomes and Risk Factors Associated With Acute Encephalitis in Children - Suchitra Rao, Benjamin Elkon, Kelly B. Flett, Angela F.­D. Moss, Timothy J. Bernard, Britt Stroud, Karen M. Wilson
Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 27 Tháng 10 2020 16:13
 

Chống dịch covid-19 trong trạng thái “bình thường mới”

In

Đến nay, dịch COVID-19 đã lây lan rộng trên phạm vi toàn cầu trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện tại tình hình dịch trên thế giới vẫn chưa có dấu hiệu chững lại, đặc biệt tại một số nước sau khi thực hiện nới lỏng các biện pháp phòng, chống dịch đã bùng phát dịch trở lại, dự báo trong thời gian tới số ca bệnh còn tiếp tục gia tăng. Ở Việt Nam, nguy cơ dịch bệnh bùng phát vẫn luôn hiện hữu. Vì vậy, cần có giải pháp phù hợp chung sống an toàn, nhất là trong giai đoạn hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có vắc xin sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Đồng thời thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch trong trạng thái “bình thường mới” nhằm thực hiện mục tiêu kép, vừa chống dịch hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội.

Bộ Y tế khuyến cáo "5K" chung sống an toàn với dịch bệnh 

Để chủ động phòng, chống dịch COVID-19 trong trạng thái “bình thường mới”, Bộ Y tế mong muốn và kêu gọi mỗi người dân Việt Nam cùng nhau thực hiện Chung sống an toàn với đại dịch COVID-19. Bộ Y tế gửi đến Bạn “Thông điệp 5K: Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tụ tập – Khai báo y tế” với các nội dung chính sau đây:

KHẨU TRANG: Đeo khẩu trang vải thường xuyên tại nơi công cộng, nơi tập trung đông người; đeo khẩu trang y tế tại các cơ sở y tế, khu cách ly.

KHỬ KHUẨN: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay. Vệ sinh các bề mặt/ vật dụng thường xuyên tiếp xúc (tay nắm cửa, điện thoại, máy tính bảng, mặt bàn, ghế…). Giữ vệ sinh, lau rửa và để nhà cửa thông thoáng.

KHOẢNG CÁCH: Giữ khoảng cách khi tiếp xúc với người khác.

KHÔNG TỤ TẬP đông người.

KHAI BÁO Y TẾ: thực hiện khai báo y tế trên App NCOVI; cài đặt ứng dụng BlueZone tại địa chỉ https://www.bluezone.gov.vn để được cảnh báo nguy cơ lây nhiễm COVID-19.

Khi có dấu hiệu sốt, ho, khó thở hãy gọi điện cho đường dây nóng của Bộ Y tế 19009095 hoặc đường dây nóng của y tế địa phương để được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn đi khám bệnh đảm bảo an toàn.

Bs Dương Thanh Trang Đài

 

Tài liệu tham khảo:

1. Sổ tay hướng dẫn phòng, chống dịch Covid-19 tại cộng đồng trong trạng thái bình thường mới - Bộ Y tế

2. Trang tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp covid-19 - Bộ y tế

3. Trang sức khỏe của CDC Hoa Kỳ – Centers for Disease Control and Prevention

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 27 Tháng 10 2020 16:03
 

Tật mút tay

In

Mút là phản xạ sinh lý bình thường ở trẻ. Phản xạ này tạo cho trẻ có cảm giác an toàn và thoái mái và giúp trẻ tìm hiểu về môi trường xung quanh. Trẻ có thể mút nhiều thứ như: ngón cái, ngón tay hoặc bàn tay, núm vú giả hoặc các đồ vật như chăn mền, đồ chơi. Phần lớn trẻ bỏ tật mút tay khi trẻ được 2 – 4 tuổi.

MÚT NGÓN TAY

- Trẻ mút ngón  thường khó bỏ hơn so với trẻ dùng núm vú giả

Tật bú ngón tay kéo dài có thể gây ảnh hưởng đến sự phát triển của khoang miệng cũng như gây lệch răng về sau. Tật này cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trần khoang miệng (khẩu cái cứng).

- Tật mút ngón tay phần lớn gây ảnh hưởng đến sự di chuyển ra trước và lên trên của răng cửa giữa của xương hàm trên và khẩu cái cứng, gây ảnh hưởng khi mở miệng ra trước để cắn. Tật này còn có thể gây co xương hàm trên và di lệch các răng hàm.

- Nên khuyến khích trẻ bỏ tật mút ngón tay khi trẻ đủ 4 tuổi.

NÚM VÚ GIẢ

- Không nên ngâm núm vú giả vào các chất ngọt như mật ong, đường.

- Núm vú giả được dùng khi trẻ ngủ để ngừa tỉ lệ bệnh đột tử khi ngủ ở trẻ sơ sinh (Sudden infant death syndrome).

- Núm vú không được dùng để thay thế hoặc chờ bữa ăn và chỉ nên dùng khi chắc chắn rằng trẻ không đói.

- Nên lựa chọn núm vú có lỗ thông và có miếng bảo vệ lớn hơn đường kính miệng của trẻ (tối thiểu là 1 ¼ inch – 3 cm so với đường kính miệng của trẻ).

- Núm vú giả nên chỉ có 1 phần và được tạo từ vật liệu bền, thay khi mòn và không bao giờ cột núm vú giả bằng dây với cũi hoặc vào cổ/tay trẻ.

- Núm vú có cấu tạo giả sinh lý (physiologic pacifies) được ưu tiên dùng hơn các núm vú truyền thống (conventional pacifies) vì giúp làm giảm ảnh hưởng lên sự phát triển của răng hàm của trẻ.

QUÁ TRÌNH MỌC RĂNG

- Mọc răng có thể bắt đầu sớm khi trẻ 3 tháng tuổi và tiếp tục cho đến khi trẻ khoảng 3 tuổi.

- Vài trẻ có thể bị sưng hoặc khó chịu khi mọc răng.

- Các biểu hiện như: tiêu chảy, ban và sốt là những biểu hiện bất thường khi trẻ mọc răng.

THÔNG TIN PHỤ HUYNH CẦN BIẾT

- Lau sạch nước mũi trên mặt trẻ để hạn chế sự phát triển ban da.

- Khi cho trẻ dùng những thức ăn cứng và lạnh, phụ huynh nên đảm bảo những thức ăn đó đủ lớn để trẻ không nuốt được hoặc thực phẩm đó không thể bị bể thành nhiều mảnh. Ví dụ: viên đá cục, núm vú giả, muỗng, khăn ướt và mẫu bánh hoặc chuối đông lạnh.

- Nên lau nướu trẻ một cách nhẹ nhàng bằng ngón tay sạch

- Nếu trẻ quấy khóc thì có thể sử dụng thuốc giảm đau

- Những loại gel vệ sinh miệng đặc biệt bán trên thị trường có thể dùng để vệ sinh răng miệng cho trẻ. Tuy nhiên những loại gel này có nhiều yếu tố nguy cơ bao gồm dị ứng tại chỗ, co giật (nếu dùng quá liều) và gây methemoglobin (MetHb), phụ huynh nên đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng.

- Nên vệ sinh răng miệng cho trẻ thường xuyên để hạn chế các rối loạn cũng như bệnh lý tiêu hóa.

Bs Trần Qúy Thiện (dịch tài liệu A Pediatric Guide to Children’s Oral Health Flip chart)

 

 

Hướng dẫn chăm sóc trẻ sinh non, nhẹ cân theo phương pháp chăm sóc bà mẹ kangaroo

In

LỢI ÍCH CỦA PHƯƠNG PHÁP CHĂM SÓC BÀ MẸ KANGAROO

Giúp trẻ duy trì thân nhiệt ổn định.

Kích thích hô hấp, giảm cơn ngừng thở

Kích thích tuần hoàn (giảm cơn chậm nhịp tim)

Kích thích sự phát triển trí não và giác quan, giảm nguy cơ rối loạn, chậm phát triển tâm thần vận động.

Tăng cường mối quan hệ mẹ con và các thành viên khác trong gia đình, tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Đề phòng được hội chứng trào ngược rất hay xảy ra ở trẻ sơ sinh.

RỬA TAY

            Trẻ sơ sinh có nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao, vì vậy để bảo vệ trẻ, người nhà nên rửa tay thường xuyên theo bảng hướng dẫn sau:

Vệ sinh thân thể

  • Lau trẻ hàng ngày: lau mặt, sau tai, cổ, nách, bẹn, khuỷu, bộ phận sinh dục...
  • Tắm toàn thân khi trẻ ổn định.

Cách thay tã cho trẻ

  • Lau sạch bộ phận sinh dục vùng hậu môn theo hướng từ trước ra sau, nghiêng trẻ, lấy tã cũ, đưa tã sạch vào.
  • Tránh nâng cao chân trẻ.

TƯ THẾ ẤP KANGAROO

Chuẩn bị

  • Người nhà: vệ sinh thân thể bằng nước sạch.
  • Dụng cụ: áo choàng và áo ống.

Vệ sinh thân thể

  • Lau trẻ hàng ngày: lau mặt, sau tai, cổ, nách, bẹn, khuỷu, bộ phận sinh dục...
  • Tắm toàn thân khi trẻ ổn định.

Cách thay tã cho trẻ

  • Lau sạch bộ phận sinh dục vùng hậu môn theo hướng từ trước ra sau, nghiêng trẻ, lấy tã cũ, đưa tã sạch vào.
  • Tránh nâng cao chân trẻ.

TƯ THẾ ẤP KANGAROO

Chuẩn bị

  • Người nhà: vệ sinh thân thể bằng nước sạch.
  • Dụng cụ: áo choàng và áo ống.

  • Bảo quản sữa mẹ
  • Nhiệt độ phòng: 4-6 tiếng
  • Trong ngăn mát tủ lạnh: 24 tiếng
  • Trong ngăn đông tủ lạnh: 3-4 tháng
  • Tủ đông có nhiệt độ ổn định: 6 tháng

Trước mỗi cữ ăn, lấy sữa mẹ từ ngăn mát tủ lạnh và để ngoài môi trường mát khoảng 30 phút.

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN THEO DÕI TRẺ KANGAROO

  1. Nhiệt độ
  • Nhiệt độ bình thường: 36.5-37.5 độ C
  • Nhiệt độ bất thường: dưới 36.5 độ C (Hạ thân nhiệt) và trên 37.5 độ C (Tăng thân nhiệt)
  • Đo nhiệt độ nách mỗi 2-6 giờ (tùy tình trạng trẻ, cô điều dưỡng sẽ báo cho bạn biết bao lâu đo một lần) và báo cho điều dưỡng nếu trẻ có tăng hoặc hạ thân nhiệt. Nhiệt độ trẻ nên được ghi lại mỗi lần đo theo mẫu được phát.
  1. Hô hấp: Quan sát sự thở của con bạn và thông báo ngay nếu có các dấu hiệu sau:
  • Cơn ngưng thở dài kèm theo tím tái
  • Thở nhanh - Thở gắng sức - Tím tái
  • Quan sát máy theo dõi: Sp02 giảm dưới 85%.
  1. Tiêu hóa: Quan sát trẻ và thông báo ngay nếu có các dấu hiệu sau
  • Nôn nhiều - Bụng chướng
  • Kém tiêu sữa: nếu trẻ đang ăn qua ống thông dạ dày, cứ mỗi 4 giờ, kiểm tra lượng sữa còn lại trong dạ dày trước cử ăn đó, nếu còn nhiều hơn 50% lượng sữa đã cho trẻ thì cần thông báo.
  • Phân có màu sắc bất thường (nâu, đỏ, bạc màu), mùi bất thường
  1. Nước tiểu: Theo dõi trẻ ướt bao nhiêu tã trong ngày, màu sắc nước tiểu có gì bất thường không
  2. Tăng trưởng:  Cân trẻ hằng ngày, ghi vào phiếu theo dõi.
  • Đo chiều dài và vòng đầu mỗi tuần 1 lần
  • Chấm lên biểu đồ tăng trưởng

                       Khoa Cấp cứu hồi sức chống độc và bệnh lý sơ sinh

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 26 Tháng 10 2020 15:32
 


Trang 1 trong tổng số 2

Trường hợp cần giúp đỡ

Hình ảnh hoạt động

  • images/stories/hinhanh/img_1932.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000336.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000338.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000350.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000353.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000362.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000371.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000378.jpg

Thông báo

Tư vấn HIV

Bệnh viên Nhi Quảng Nam
Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 05103845717
Phát trển bởi Trung Tâm CNTT & Truyền Thông Quảng Nam