Đăng nhập thành viên

Liên kết website

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay43
mod_vvisit_counterHôm Qua199
mod_vvisit_counterTuần này6270
mod_vvisit_counterTuần trước8377
mod_vvisit_counterTháng này8046
mod_vvisit_counterTháng trước25657
mod_vvisit_counterTất cả1926748

Chúng ta có: 11 Khách trực tuyến
Tư vấn chăm sóc và điều trị một số bệnh thường gặp

Viêm cầu thận cấp

Email In PDF.

Viêm cầu thận cấp là một bệnh thường gặp nhất là ở trẻ em, hầu hết là ở lứa tuổi 5-10 tuổi. Tiên lượng nhìn chung là tốt nhưng sau điều trị, dù đã ra viện bệnh nhi vẫn cần được theo dõi, đến khi xác định bệnh đã khỏi hoàn toàn (tất cả các xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu… trở lại bình thường). Mục đích là không để từ viêm cầu thận cấp sang viêm cầu thận mạn, suy thận mạn… cuối cùng là phải ghép thận. Ngoài thể bệnh nhẹ còn gặp tiến triển nặng, tuy ít như huyết áp tăng cao, vô niệu ( thận không lọc được nước tiểu) gây nhiều biến chứng có khả năng làm bệnh nhi tử vong.

I. NGUYÊN NHÂN

Viêm cầu thận cấp là bệnh nhiễm khuẩn dị ứng, 85% do liên cầu khuẩn tan khuyết β nhóm A gây ra, nó cũng là thủ phạm của bệnh tim. Ngoài ra còn do một số vi khuẩn khác như tụ cầu, phế cầu…

II. DẤU HIỆU

- Trước khi xuất hiện các dấu hiệu của bệnh lý thận, trẻ thường bị mắc viêm họng đỏ, bệnh ngoài da, mụn nhọt, lở, viêm mủ da.

- Khởi đầu bằng sốt nhẹ hoặc không sốt, mệt mỏi, chán ăn, đau sau     lưng.

- Phù, lúc đầu ở mặt, mi mắt nặng, mặt nặng, sau ở chân; phù có thể    nhẹ, có thể nặng gây phù toàn thân.

- Đái ít, nước tiểu vẩn đục màu đỏ hoặc sẫm màu, nặng thì vô niệu.               Xét nghiệm nước tiểu có nhiều protein (1-2g/lít), nhiều hồng cầu, trụ niệu           lấm tấm.

- Huyết áp cao hơn bình thường, nặng thì huyết áp cao nhiều (tối đa    140 mmHg), trẻ có dấu hiệu thần kinh (co giật), có biểu hiện suy tim (khó thở, gan to).

III. XỬ TRÍ

 

Việc chủ yếu của gia đình bệnh nhi là biết cách chăm sóc, chế độ nuôi dưỡng và phòng ngừa, phải đến bệnh viện để điều trị bệnh.

1. Săn sóc: Nằm nghỉ hoàn toàn tại giường từ 3-4 tuần lễ, được đi lại nhẹ nhàng khi bác sĩ cho phép.

2. Chế độ ăn uống: Kiêng mặn, ăn bột sữa, bột đường, cháo đường, cháo sữa với lượng nước giới hạn trong 2-3 ngày, sau đó tăng dần từ từ trở lại chế độ bình thường khi huyết áp giảm rồi trở về bình thường; bớt phù hoặc hết, lượng nước tiểu tăng rồi trở lại bình thường.

Nếu nước tiểu đái ra ít, urê máu cao phải hạn chế thịt, hoa quả có nhiều kali. Nếu còn phù nhiều, đái vẫn ít, lượng nước uống và trong đồ ăn tương ứng với lượng nước tiểu thải ra. Nếu huyết áp cao cần ăn nhạt hoàn toàn. Trẻ còn bú mẹ thì vẫn cho bú bình thường.

3. Chống nhiễm khuẩn: Penicilline 1.000.000 đv/ngày, tiêm hoặc uống làm hai lần dùng trong 10 ngày.

4. Nếu có huyết áp cao, vô niệu thì có chỉ định điều trị riêng

- Kết quả tốt: sau 2-3 tuần điều trị, phù giảm, lượng nước tiểu tăng,       huyết áp trở lại bình thường. Sau 1 tháng điều trị protein niệu hết nhưng       hồng cầu vẫn tồn tại trong nước tiểu kéo dài tới một năm.

- Kết quả kém: 1 tháng sau điều trị huyết áp vẫn còn cao; 6 tháng sau   điều trị protein niệu vẫn còn 1g/24 giờ.

IV. PHÒNG NGỪA

1. Phòng ngừa cho trẻ em nói chung

Cần phát hiện và chữa các ổ nhiễm vi khuẩn ở họng-xoang, bệnh mụn nhọt, mủ da...

     Chú ý phòng lạnh, chống rét cho trẻ.

2. Đối với bệnh nhi sau ra viện vẫn cần được theo dõi bệnh như nói ở phần đầu

- Khi có nhiễm khuẩn họng – xoang tái phát, bệnh nhiễm khuẩn ngoài   da phải sớm điều trị diệt khuẩn.

- Ba tháng sau mắc bệnh mới được hoạt động thể lực vừa phải; 6 tháng sau mới được hoạt động thể lực mạnh, nhưng cấm tắm lạnh cho đến khi nước tiểu bình thường.

                                                                                                                                                                                                    BS.CKI Trần Thị Thủy

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 14 Tháng 1 2014 09:47
 

Tiêu chảy cấp

Email In PDF.

 

Tiêu chảy là một nguyên nhân hàng đầu gây đau ốm và suy dinh dưỡng cho trẻ em. Hằng năm có đến hàng trăm trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy phải nhập bệnh viện nhi Quảng Nam. Nguyên nhân chính gây ra tử vong của tiêu chảy cấp là do cơ thể bị mất nước và điện giải theo phân. Hiện nay đã có biện pháp điều trị đơn giản và hiệu quả làm giảm tỉ lệ tử vong do tiêu chảy,hầu hết các trường hợp không cần thiết phải nhập viện.

Các bà mẹ có thể xác định trẻ bị tiêu chảy cấp khi trẻ đi ngoài phân lỏng hơn hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ. Các trẻ nhỏ còn bú mẹ thường đi ngoài nhiều lần trong một ngày, phân nhão hoặc mềm một cách thường xuyên thì không phải là tiêu chảy. Trẻ bị tiêu chảy khi trẻ đi ngoài phân lỏng hơn và nhiều lần hơn thường lệ. Tiêu chảy cấp kéo dài không quá 14 ngày, trẻ có thể bị nôn và sốt kèm theo. Tiêu chảy gây suy dinh dưỡng do giảm hấp thu, trẻ chán ăn, nôn hoặc do kiêng khem. Các tác nhân thường gây bệnh ở trẻ em là virut, vi khuẩn, kí si trùng.

Bệnh tiêu chảy có đường lây truyền thông thường là đường phân, miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm hay lây lan trực tiếp từ người sang người hoặc tiếp xúc với phân người bệnh. Một số tập quán sinh hoạt có thể làm tăng nguy cơ lây lan bệnh như: không rửa tay sau khi đi ngoài, trước khi chế biến thức ăn, không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, cai sữa cho trẻ sớm trước một tuổi, sử dụng bình bú để nuôi trẻ, dùng nước uống đã bị ô nhiễm, không xử lí phân một cách hợp vệ sinh. 

- Hầu hết các lượt tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu của cuộc đời, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm trẻ 6-12 tháng tuổi, lúc mới tập cho ăn dặm.

- Nguyên tắc điều trị là phải phát hiện sớm, bồi phụ nhanh, đủ nước và các chất điện giải mà trẻ bị mất do tiêu chảy. Cách điều trị tuỳ thuộc vào mức độ mất nước:

-Mất nước nhẹ : Trẻ tỉnh táo, miệng ướt, khóc có nước mắt, uống nước bình thường. Điều trị sớm tại nhà ngay khi mới bị tiêu chảy thường phòng được tình trạng mất nước và suy dinh dưỡng. Nên cho trẻ uống nhiều nước và điện giải hơn bình thường, có thể dùng nước cháo muối, nước gạo rang, nước ORS, cho uống sau mỗi lần tiêu chảy, uống đến khi trẻ hết khát. Theo dõi sát tình trạng mất nước của trẻ, nếu không đỡ mà nặng lên thì phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế.

-Mất nước vừa: vật vã, kích thích, mắt trũng, miệng lưỡi khô, khóc không có nước mắt, da khô, uống nước háo hức, đái ít. Phải điều trị tại cơ sở y tế. Tiếp tuc cho trẻ uống nước, điện giải dựa theo cân nặng của trẻ. Có thể cho trẻ uống bằng cốc, từng thìa, nếu trẻ nôn thì chờ 10 phút sau lại cho uống tiếp.

-Mất nước nặng:mệt lả, li bì, hôn mê, mắt rất trũng, da khô, khóc không có nước mắt, uống kém hoặc không uống được. Đây là tình trạng mất nước năng có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng, cần được điêù trị cấp cứu tại cơ sở y tế. Bù nhanh chóng lượng dịch đã mất qua đường tĩnh mạch.

 - Người chăm sóc phải cặp nhiệt độ cho trẻ 4-6 giờ /1lần, theo dõi số lượng phân đi ngoài trong ngày, lượng nước tiểu, đánh giá tri giác của trẻ. Không được dùng kháng sinh nếu không phải là tiêu chảy do vi khuẩn như lỵ, tả...   Việc dùng các loại thuốc này phải được chỉ định của nhân viên y tế nhằm tránh gây rối loạn tiêu hoá kéo dài, không dùng các loại thuốc chống nôn, cầm tiêu chảy.

Tiêu chảy là nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng vẫn được hấp thu trong lúc bị tiêu chảy, vì vậy có thể phòng cho trẻ khỏi bị sụt cân bằng cách tiếp tuc cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng. Các loại thức ăn được dùng như là ngũ cốc, dầu thực vật, thịt, cá, trứng, rau. Các nước hoa quả tươi, chuối nghiền là những loại thức ăn có lợi vì cung cấp thêm Kali. Thức ăn phải nấu lúc còn tươi, để tránh khỏi bị vi khuẩn phát triển, được nghiền kĩ để dễ tiêu hoá, cần cho ăn 3-4 giờ / 1lần. Sau khi hết tiêu chảy cho trẻ ăn thêm ít nhất 1bữa mỗi ngày trong 2 tuần. Trẻ suy dinh dưỡng có thể phải cho ăn chế độ ăn này trong thời gian dài hơn cho tới khi hết suy dinh dưỡng . Trẻ nhỏ dưới 6 tuổi thì sữa bột cần pha loãng 1/2 trong 2 ngày sau 2 ngày thì sữa được cho ăn với cách pha như thường lệ. Trẻ lớn hơn cho ăn sữa như thường lệ trong suốt thời gian bị bệnh cần tiếp tục cho bú sữa mẹ .

Cách phòng bệnh: nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu nhằm tăng cường miễn dịch với bệnh tật cho trẻ, sau đó cho ăn bổ sung kèm bú mẹ. Không nên cho trẻ bú chai, bú bình, ngậm vú giả. Tạo tập quán ăn tốt cho trẻ: cho trẻ ăn bổ sung sau 6 tháng, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, Tạo thói quen cho trẻ rửa tay trước khi ăn và bà mẹ trước khi cho trẻ ăn, sử dụng nguồn nước sạch, chế biến, bảo quản thức ăn an toàn, hợp vệ sinh.

                                                                                                                                                                                                                                   BS.CKI Nguyễn Thị Hồng Diệp

 

         

 

 

CHẢY MÁU MŨI VÀ CÁCH XỬ LÝ

Email In PDF.

Chảy máu mũi, hay còn gọi là chảy máu cam, là tình trạng chảy máu từ niêm mạc mũi ra mũi trước hoặc chảy ra mũi sau xuống họng. Tại Việt Nam chưa có thống kê về tình trạng này. Tại Hoa Kỳ thì 60-70% dân số ít nhất một lần trong đời bị chảy máu mũi, nhưng chỉ 10% trong số đó cần can thiệp của y tế.

Niêm mạc mũi rất dễ chảy máu vì có nhiều mạch máu tập trung và mạng lưới mao mạch cung cấp rất dày. Chảy máu mũi có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp hơn cả  là trẻ em ở độ tuổi từ 3-8 tuổi. Chảy máu mũi thường được chia làm hai nhóm dựa vào nơi mà máu chảy ra:

Chảy máu mũi trước chiếm 90% các trường hợp chảy máu mũi. Máu thường chảy ra từ các mạch máu ở khu vực phía trước cửa mũi. Chảy máu mũi trước thường là dễ kiểm soát ngay tại nhà hoặc ở cơ sở y tế.

Chảy máu mũi sau thì hiếm gặp hơn, thường gặp ở những người lớn tuổi. Máu chảy ra từ những động mạch ở phần phía sau của mũi. Những trường hợp này thì phức tạp hơn và thường đòi hỏi phải nhập viện để được điều trị bởi bác sĩ Tai Mũi Họng.

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi không dễ xác định được nguyên nhân. Thường gặp nhất là do chấn thương. Có thể là chấn thương ở bên ngoài mũi, như bị đập vào mặt hoặc ở phía trong mũi, như do ngoáy mũi hoặc do bị không khí lạnh kích thích liên tục. Chảy máu mũi có thể là kết quả của những bệnh ẩn phía sau, chẳng hạn như bệnh máu không đông có thể dẫn đến chảy máu, do sử dụng những loại thuốc làm loãng máu như warfarin hoặc aspirin. Bệnh về gan cũng có thể làm máu khó đông. Bất thường về mạch máu hoặc ung thư trong mũi là 2 nguyên nhân hiếm gặp của hiện tượng chảy máu mũi. Cao huyết áp cũng có thể gây chảy máu mũi.

* Xử lý như thế nào khi trẻ bị chảy máu mũi?

- Như đã nói ở trên, chảy máu mũi đa số là chảy máu mũi trước nên chỉ cần thực hiện các bước sau đây là đủ để làm ngưng chảy máu:

- Bình tĩnh

- Ngồi thẳng cúi đầu nhẹ về phía trước. Ngửa ra sau chỉ làm cho trẻ nuốt phải máu.

- Bóp cả 2 cánh mũi lại với nhau bằng ngón cái và ngón trỏ trong vòng 7-10 phút.

- Nhổ ra tất cả máu chảy xuống miệng, nếu không làm vậy có thể trẻ sẽ ói ra máu.

- Có thể lập lại như trên nếu vẫn còn chảy máu. Sau 2-3 lần mà máu vẫn chảy thì nên đem trẻ đến cơ sở y tế để được khám và xử lý đúng hơn.

* Cần đem trẻ đến cơ sở y tế khi:

- Máu vẫn tiếp tục chảy sau khi bóp mũi 7-10 phút, đã thực hiện 2-3 lần.

- Bị chảy máu mũi tái phát nhiều lần trong thời gian ngắn.

- Bị hoa mắt, choáng váng, hoặc gần như hôn mê.

- Tim đập nhanh hoặc khó thở.

- Khạc hoặc nôn ra máu.

- Bị phát ban hoặc nhiệt độ cơ thể tăng trên 38.5°C.

                                                                                                                                                                                                  ThS.BS Nguyễn Đình Thoại (theo BV Nhi Đồng 1 TP Hồ Chí Minh)

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 18 Tháng 12 2013 14:56
 


Trang 3 trong tổng số 3

Trường hợp cần giúp đỡ

Hình ảnh hoạt động

  • images/stories/hinhanh/img_1932.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000336.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000338.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000350.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000353.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000362.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000371.jpg
  • images/stories/hinhanh/p1000378.jpg

Thông báo

Tư vấn HIV

Bệnh viên Nhi Quảng Nam
Địa chỉ: 46 Lý Thường Kiệt, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 05103845717
Phát trển bởi Trung Tâm CNTT & Truyền Thông Quảng Nam